Đại đoàn kết toàn dân tộc - Điểm tựa tiên quyết trong đấu tranh chống diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

28/11/2025

                                                                              TS. Nguyễn Hồng Hải; ThS. Ngô Thị Trinh, Học viện Dân tộc

      Tóm tắt: Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã và đang khẳng định sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với việc giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Hiện nay, các thế lực thù địch tăng cường chống phá ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN), do đó cần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để đấu tranh làm thất bại diễn biến hòa bình trên địa bàn này, góp phần khơi dậy và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

      Từ khóa: Đại đoàn kết toàn dân tộc; dân tộc; lịch sử, truyền thống.

      1. Đặt vấn đề

      Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Suốt chiều dài lịch sử, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã sớm đoàn kết để chinh phục thiên nhiên, chống ngoại xâm. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố và phát huy, tạo thành nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, truyền thống và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành điểm tựa tiên quyết trong đấu tranh chống diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch ở vùng đồng bào DTTS&MN.

      2. Tổng quan nghiên cứu

Đến nay, có nhiều công trình khoa học đề cập đến vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết vấn đề cơ bản, cấp bách ở vùng DTTS&MN, trong đó tiêu biểu là các công trình như: Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc Việt Nam (Đoàn Minh Huấn, 2015); Phát huy vai trò quân đội trong đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta (Tạ Việt Hùng, 2016); Truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay (Lưu Văn An, 2019); Những vấn đề cơ bản và cấp bách về dân tộc thiểu số và chính sách dân tộc ở Việt Nam sau hơn 30 năm đổi mới (Phan Văn Hùng, 2021), Phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay (Nguyễn Hùng Oanh, 2022); Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc (Nguyễn Phú Trọng, 2023)... Các công trình khoa học đã đề cập đến âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch vùng DTTS&MN và phát huy sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh phòng chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch dưới nhiều góc độ tiếp cận, phạm vi nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về đại đoàn kết toàn dân tộc là điểm tựa tiên quyết trong đấu tranh chống diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch ở vùng đồng bào DTTS&MN.

      3. Phương pháp nghiên cứu

      Bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp, tập trung vào các Văn kiện đại hội Đảng, Nghị quyết, Chỉ thị, kết luận của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Nghị quyết của Quốc hội; Nghị quyết, Báo cáo của Chính phủ… và các công trình khoa học có liên quan. Trên cơ sở phân tích tài liệu, tổng hợp, khái quát hóa để làm rõ đại đoàn kết toàn dân tộc là điểm tựa tiên quyết trong đấu tranh chống diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch ở vùng đồng bào DTTS&MN.

      4. Kết quả nghiên cứu

      4.1. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là yếu tố quan trọng hàng đầu có ý nghĩa quyết định đối với mọi thắng lợi của dân tộc ta trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước

      Suốt chiều dài lịch sử, cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn kề vai sát cánh, “chung lưng đấu cật”, kiên cường đấu tranh chống lại các thế lực ngoại bang hùng mạnh xâm lược. Dù đất không rộng, người không đông nhưng toàn thể dân tộc đã đồng lòng, chung sức, làm nên những chiến công oanh liệt, hiển hách trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Và cũng chính tinh thần, ý chí quyết giành độc lập, tự do của toàn dân tộc đã tạo nên sức mạnh to lớn làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, đưa nhân dân ta từ địa vị nô lệ trở thành người tự do, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do. Trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài cấu kết với nhau nhằm bóp chết chính quyền cách mạng còn non trẻ, toàn dân tộc “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” đã đánh bại thực dân, làm nên Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Ngay sau đó, đế quốc Mỹ lại kế chân xâm lược nước ta với các loại vũ khí, thiết bị tối tân, hiện đại nhất nhưng toàn thể dân tộc Việt Nam đã đồng lòng, chung sức đấu tranh, làm nên Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975. Thắng lợi oanh liệt đó do nhiều nguyên nhân, nhưng suy đến cùng là do ý chí, sức mạnh của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam.

      Hiện nay, truyền thống, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được bồi đắp, phát triển, đã và đang trở thành điểm tựa vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta khẳng định:Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, đường lối chiến lược quan trọng, xuyên suốt của Đảng; nguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ         Tổ quốc[1]. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã được nhân lên trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với công cuộc củng cố, tăng cường quốc phòng an ninh, tạo thế và lực để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia dân tộc. Chính việc khơi dậy và phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đã tạo nên động lực mạnh mẽ đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giành những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

      4.2. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là điểm tựa tiên quyết trong đấu tranh chống diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch ở vùng đồng bào DTTS&MN

      Những năm gần đây, các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” để chống phá cách mạng nước ta, trong đó, chúng lấy vùng DTTS&MN làm địa bàn trọng điểm để tiến hành các hoạt động chống phá. Thông qua các hoạt động vừa công khai, vừa ngấm ngầm nhằm kích động đồng bào các dân tộc chống lại đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; kích động đồng bào chống đối chính quyền, gây rối loạn xã hội, mất ổn định chính trị, làm mất hiệu lực hoạt động quản lý của Nhà nước đối với đất nước, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; từ đó phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc, chống phá sự nghiệp cách mạng ở nước ta, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, tạo cớ can thiệp chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu thâm độc đó, các thế lực thù địch đã sử dụng các thủ đoạn chủ yếu sau:

       - Chúng ra sức tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc, đại đoàn kết toàn dân tộc. Triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin hiện đại để phát tán tài liệu phản động, sai trái, đồng thời khai thác tối đa công cụ truyền miệng để tung tin thất thiệt, sai lệch.

       - Triệt để lợi dụng vấn đề nguồn gốc lịch sử tộc người, đất đai, sự khác nhau về văn hoá, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo giữa các dân tộc và sự chênh lệch giữa các dân tộc về kinh tế        - xã hội để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, tâm lý mặc cảm, tự ty, kỳ thị dân tộc, đòi quyền “tự trị” của các dân tộc thiểu số.

      - Lợi dụng một bộ phận đồng bào có đời sống khó khăn, trình độ dân trí thấp, chúng dùng tiền, vật chất mua chộc, lôi kéo di cư, vượt biên trái phép hoặc ép buộc đồng bào chống đối chính quyền. Thâm độc hơn, chúng gắn vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo, nhân quyền gây xung đột, bạo loạn, tạo các “điểm nóng” để vu khống Việt Nam đàn áp các dân tộc, vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”…

      - Lợi dụng, phức tạp hóa những vấn đề nhạy cảm, bức xúc trong xã hội để thổi phồng khuyết điểm, phủ nhận thành tựu, làm mất uy tín, vai trò của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương, tiếp tay, can thiệp, gây mâu thuẫn, xích mích trong nhân dân, đối lập nhân dân với chính quyền để chống phá chế độ.

      - Nguy hiểm hơn chúng tập hợp, tài trợ, nuôi dưỡng các phần tử bất mãn, tiêu cực ở trong nước, xây dựng các tổ chức phản động người Việt Nam ở nước ngoài, tạo lực lượng bên trong cấu kết với lực lượng bên ngoài, kích động đồng bào các dân tộc thiểu số trong nước đòi quyền dân tộc tự quyết, thành lập “Nhà nước Tin lành Đề-ga” ở Tây Nguyên, “Vương quốc Chămpa” ở Tây Nam Bộ, “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc... qua đó nhằm hình thành các tổ chức đối lập với Đảng, Nhà nước Việt Nam.

      - Hỗ trợ thành lập các đài phát thanh như VOKK (Khơ-me Cam-pu-chia Crôm), RFA (Châu Á tự do), đài Đề-ga và in ấn báo, tạp chí, tài liệu bằng tiếng dân tộc, phát tán băng đĩa có nội dung tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Việt Nam “chiếm đất”, “đàn ám, kìm kẹp người dân tộc thiểu số”, “vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế”, tuyên truyền về một cuộc sống giàu sang... xây dựng ảo tưởng, khoét sâu tâm lý ly khai, kích động tư tưởng đòi “tự trị”, “ly khai” chia nhỏ Việt Nam.

      - Tiến hành “đạo hóa” dân tộc thiểu số, lợi dụng hoạt động tôn giáo để lôi kéo, tập hợp lực lượng hình thành các khung chính quyền ngầm núp dưới vỏ bọc tôn giáo, làm thay đổi nếp sống văn hóa truyền thống bằng thứ văn hóa xa lạ, dùng thần quyền để lừa bịp, tập hợp lực lượng, hình thành các nhóm phản động dưới bình phong tôn giáo, khi hội tụ đủ điều kiện thì kích động đồng bào các dân tộc gây bạo loạn, tạo cớ can thiệp.

      - Lợi dụng hoạt động từ thiện, nhân đạo, thăm thân, du lịch, ngoại giao, hợp tác, nghiên cứu văn hóa dân tộc… để thu thập thông tin, tập hợp lực lượng, móc nối xây dựng cơ sở, tạo dựng “ngọn cờ” tiến hành các hoạt động phá hoại. Chúng lợi dụng chính sách mở rộng quan hệ quốc tế của Nhà nước ta để tranh thủ đưa người từ nước ngoài vào xâm nhập vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, từ đó hỗ trợ, kích động biểu tình, bạo loạn, vượt biên trái phép. Lợi dụng quyền dân tộc tự quyết làm điều kiện trong quan hệ ngoại giao, gắn việc viện trợ, hợp tác kinh tế với việc đòi Nhà nước Việt Nam trao “quyền tự quyết, tự quản” cho các dân tộc thiểu số ở trong nước, qua đó hòng tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Chúng còn tăng cường “quốc tế hóa” vấn đề “quyền dân tộc tự quyết” để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống đối Nhà nước Việt Nam từ bên trong.

      Với mưu đồ đen tối, thủ đoạn tinh vi, các thế lực thù địch đã tiến hành nhiều hoạt động chống phá trên địa bàn vùng DTTS&MN ở nước ta. Trong những năm 2001, 2004, 2008, các thế lực phản động, thù địch đã kích động hàng chục nghìn người ở Tây Nguyên tham gia biểu tình, bạo loạn phá hoại kinh tế, chống đối chính quyền; xúi dục, lừa gạt người dân tộc thiểu số trốn ra nước ngoài khiến cho nhiều người bỏ nhà cửa, nương rẫy, rơi vào cảnh “màn trời chiếu đất”, “tan đàn sẻ nghé”. Tngày 30/4 đến ngày 6/5/2011, một số phần tử xấu dùng nhiều thủ đoạn kích động, lôi kéo hàng nghìn đồng bào Mông từ nhiều xã trong huyện Mường Nhé (tỉnh Điện Biên) và các địa phương khác tụ tập về bản Huổi Khon, xã Nậm Kè để chờ ngày chúa phán quyết và xưng vua. Nguy hiểm hơn, các lực lượng phản động bên ngoài còn chỉ đạo lực lượng phản động bên trong tiến hành khủng bố vào đêm ngày 10/6, rạng sáng ngày 11/6/2023 ở xã Ea Ktur và Ea Tiêu, huyện Cư Kuin (tỉnh Đắk Lắk) làm tử vong 4 cán bộ Công an xãbị thương 2 cán bộ Công an xã khác, đập phá, thiêu đốt tài sản nhà nước và công dân... Ngoài ra, những năm gần đây, được sự tiếp tay của các thế lực thù địch, phản động, vùng DTTS&MN còn xảy ra một số vụ việc khiếu kiện, tranh chấp đông người, phát sinh một số vụ mâu thuẫn giữa đồng bào dân tộc thiểu số với người Kinh, doanh nghiệp, chính quyền… Những hoạt động chống phá đó đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, phát triển kinh tế - xã hội và đời sống của đồng bào vùng DTTS&MN.

      Trước âm mưu, thủ đoạn đó, Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp đã chủ động lãnh đạo, chỉ đạo huy động và phát huy cao nhất sức mạnh của toàn dân trong tham gia phát hiện, ngăn ngừa, đấu tranh, từng bước đập tan mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch. Với sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của các tổ chức, lực lượng và toàn dân bằng nhiều hình thức, biện pháp đa dạng đã củng cố và tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc, khơi dậy và phát huy sức mạnh tổng hợp trong nhận diện và đấu tranh kịp thời với hoạt động chống phá của thế lực thù địch ở vùng DTTS&MN. Gần đây, trong vụ khủng bố ở tỉnh Đắk Lắk năm 2023, chính sự đồng lòng, chung sức của toàn dân đã giúp các lực lượng chức năng nhanh chóng phát hiện, bắt giữ các phần tử chống phá, trả lại cuộc sống bình yên nơi đại ngàn Tây Nguyên. Rõ ràng, sức mạnh toàn dân tộc đã tạo nên điểm tựa vững chắc trong đấu tranh làm thất bại diễn biến hòa bình ở vùng DTTS&MN.

      5. Thảo luận

      Một số giải pháp khơi dậy và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong đấu tranh chống diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch ở vùng đồng bào DTTS&MN

      Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, tiềm ẩn nhiều nguy cơ, thách thức mới. Các thế lực thù địch, phản động tăng cường thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá cách mạng nước ta bằng thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm, gây ra nhiều khó khăn, thách thức đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, nhất là ở vùng DTTS&MN. Trước những thách thức đó, cần phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, tiềm năng, sức sáng tạo của toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đấu tranh chống diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch ở vùng đồng bào DTTS&MN. Để thực hiện được điều đó, cần thực hiện các giải pháp chủ yếu sau:

      Một là, nâng cao nhận thức về truyền thống, lịch sử, sức mạnh dân tộc và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ở vùng DTTS&MN. Tập trung giáo dục lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân ta, tuyên truyền sâu rộng về những anh hùng, liệt sĩ, những tấm gương yêu nước của đồng bào... làm cho mỗi người, nhất là thế hệ trẻ hiểu biết và tự hào v truyền thống, lịch sử dân tộc, từ đó nhận rõ trách nhiệm của bản thân với Tổ quốc, với gia đình và xã hội. Muốn vậy, cần tích cực hóa hoạt động dạy học môn lịch sử, kết hợp nhiều kênh thông tin, đa dạng hóa các hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục để bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, khơi dậy ước mơ, hoài bão, khát vọng cống hiến, vươn lên của đồng bào. Đồng thời, chú trọng tuyên truyền âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam, làm cho mỗi người có khả năng tự đề kháng và tích cực đấu tranh với âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

      Hai là, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm điểm tương đồng để khơi dậy và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết bao giờ cũng phải dựa trên sự đồng tâm, nhất trí, đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, trước hết. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là đường lối duy nhất đúng, là ngọn cờ quy tụ lòng dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động, khơi dậy và tăng cường ý thức cố kết cộng đồng, phát huy tinh thần, trách nhiệm của mỗi người Việt Nam dù ở trong nước hay định cư ở nước ngoài đều đồng tâm, hiệp lực góp phần dựng nước và giữ nước. Thực hiện phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong đó lợi ích quốc gia dân tộc là bất biến; kiên định về nguyên tắc, mục tiêu chiến lược, linh hoạt về sách lược. Không nhân nhượng, thỏa hiệp về độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc, “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”[2]. Trên cơ sở đó, phải Lấy mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc; trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 làm điểm tương đồng để động viên, cổ vũ nhân dân đồng lòng, chung sức thực hiện vì tương lai của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân[3].

      Ba là, tập trung xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy vai trò của các giai tầng xã hội trong đấu tranh làm thất bại diễn biến hòa bình ở vùng DTTS&MN. Tập trung xây dựng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, xây dựng niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; xây dựng đoàn kết trong Đảng, đoàn kết giữa các giai tầng xã hội, giữa cộng đồng các dân tộc Việt Nam, giữa đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước, đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới, tạo nền tảng vững chắc cho đại đoàn kết toàn dân tộc. Tập trung xây dựng và phát huy vai trò của các giai cấp, tầng lớp xã hội trong tham gia phòng chống diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch. Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển, huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu s. Chng kỳ thị dân tộc, dân tộc cực đoan, dân tộc hẹp hòi; nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

      Bốn là, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh vùng DTTS&MN. Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái. Huy động mọi nguồn lực để tạo bước đột phá trong xoá đói, giảm nghèo, phát triển sản xuất, chăm lo đời sống tinh thần, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc, nâng cao trình độ dân trí, đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, từng bước giải quyết các vấn đề xã hội. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tiềm năng và sức sáng tạo của nhân dân, thực hiện có hiệu quả phương châm Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”[4]. Tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh của đất nước, coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị, thế trận lòng dân; kết hợp chặt chẽ thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân. Xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả các phương án phòng chống bạo loạn, gây rối, khủng bố; các phương án đảm bảo an ninh chính trị, an ninh tư tưởng - văn hoá, an ninh kinh tế, an ninh thông tin, nhất là an ninh mạng. Tiếp tục xây dựng lực lượng vũ trang tinh, gọn, mạnh, đáp ứng yêu cầu là lực lượng nòng cốt trong đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Kịp thời phát hiện, vô hiệu hoá các tổ chức phản động, giải quyết dứt điểm các vụ việc phức tạp ngay tại cơ sở, không để lan rộng trở thành điểm nóng.

      Năm là, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn về mọi mặt. Tập trung thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, tạo cơ sở để phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, nâng cao hiệu quả giám sát, phản biện xã hội. Kiên quyết đấu tranh với các phần tử cơ hội chính trị, tệ quan liêu, tham nhũng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa trong nội bộ”, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đổi mới việc tổ chức các cuộc vận động, phong trào thi đua để huy động đông đảo người dân tham gia, bảo đảm cho nhân dân thực sự là chủ thể trong lao động sản xuất, sáng tạo, phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, làm giàu cho gia đình, quê hương, đất nước, củng cố, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

      Kết luận

      Đại đoàn kết toàn dân tộc là di sản văn hóa quý giá, là nền tảng tinh thần cao đẹp và là cội nguồn của sức mạnh Việt Nam. Mọi âm mưu, thủ đoạn và hành động chống phá của các thế lực thù địch đã bị đánh bại bằng chính điểm tựa tinh thần vững chắc ấy. Do đó, cần sử dụng đồng thời các giải pháp củng cố, tăng cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; biến truyền thống, bản lĩnh, khí phách và trí tuệ của con người Việt Nam, cộng đồng các dân tộc Việt Nam thành sức mạnh to lớn trong trong đấu tranh làm thất bại diễn biến hòa bình ở vùng DTTS&MN, góp phần phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong điều kiện mới.

      TÀI LIỆU THAM KHẢO

     1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I,  Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

     2. Ban chấp hành Trung ương (2023), Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, tr.2

     3. Ban chấp hành Trung ương (2023), Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24/11/2023, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

     4. Lưu Văn An (2019), Truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số 6/2019, tr.34-40.

     5. Đoàn Minh Huấn (2015), Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

     6. Phan Văn Hùng (2015), Những vấn đề mới trong quan hệ dân tộc và định hướng hoàn thiện chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, Mã số KX 04.18/2011-2015.

     7. Tạ Việt Hùng (2016), Phát huy vai trò quân đội trong đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta, Nxb. QĐND, Hà Nội.

     8. Nguyễn Phú Trọng (2023), Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

     9. Nguyễn Hùng Oanh (2022), Phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay, Báo Quân đội nhân dân điện tử, ngày 28/03/2022.

 

 

[1] Ban chấp hành Trung ương (2023), Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, tr.2

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. CTQG, Hà Nội, tr.156-157

[3] Ban chấp hành Trung ương (2023), Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, tr.3

 

ĐIỆN THOẠI HỖ TRỢ

+ 0912.205.509
+ 0829.638.068