Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi - Thực trạng và giải pháp

     Ở nước ta, vùng dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) chiếm 3/4 diện tích và chiếm gần 14,3% dân số của cả nước. Đây là địa bàn có vị trí hết sức quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và giao lưu quốc tế. Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX chỉ rõ: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam”[1]. Để thực hiện thành công vấn đề dân tộc và công tác dân tộc, bên cạnh những chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng thì Đảng, Nhà nước ta luôn chăm lo đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho vùng DTTS & MN.

Nhận thức rõ vai trò và ý nghĩa to lớn của nguồn nhân lực, Đảng ta trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, đặc biệt là trong thời kỳ tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế luôn coi trọng “Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH)”[2]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn; đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề”[3]. Để cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách phát triển nguồn nhân lực vùng DTTS&MN như: Chính sách xây dựng và phát triển hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú; Chính sách cử tuyển học sinh vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp; Chính sách ưu tiên điểm đối với học sinh thi đại học, cao đẳng cho học sinh tại các vùng, miền có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; Quyết định 1956/QĐ-TTg về đào tạo nghề; Chính sách tín dụng đối với học sinh, sinh viên nghèo…

Nhờ có chủ trương, chính sách đúng đắn và phù hợp của Đảng, Nhà nước, đến nay đã có nhiều mô hình trường học dành cho con em đồng bào các dân tộc như: Trường thanh niên dân tộc, trường vừa học vừa làm, trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú, trường dự bị đại học dân tộc. “Hiện nay cả nước đã có 304 trường phổ thông dân tộc nội trú với gần 64.697 học sinh thuộc 45/53 dân tộc thiểu số, trong đó có 215 trường cấp huyện, 89 trường cấp tỉnh. Năm học 2014-2015 số học sinh tiểu học là con em dân tộc là 1.316.048 em; trung học cơ sở là 816.995 em; trung học phổ thông có 296.868 em”[4]. Cùng với sự phát triển của hệ thống giáo dục phổ thông, đến nay đã có 4 trung tâm đại học khu vực: Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam bộ. Hệ thống trường đào tạo nghề, trường cao đẳng được củng cố, phát triển. Hiện cả nước có trên 13.000 người dân tộc thiểu số có trình độ trên đại học, đại học, cao đẳng; hơn 78.000 người có trình độ trung học chuyên nghiệp... Bên cạnh đó, do thực hiện tốt công tác giáo dục & đào tạo (GD&ĐT) nên trình độ dân trí của vùng DTTS & MN đã được nâng lên đáng kể. Về cơ bản, đã thực hiện thành công sự nghiệp xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; quy mô đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề tiếp tục tăng với tốc độ cao; trình độ tay nghề, chuyên môn kỹ thuật của lao động từng bước được nâng lên; tiềm lực và trình độ khoa học - công nghệ đã có bước phát triển đáng kể...

Tuy nhiên, bên cạnh những vấn đề đạt được thì hiện nay tỷ lệ tái mù chữ còn cao, tình trạng học sinh bỏ học còn nhiều, nhất là ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, học sinh nữ, con em các gia đình nghèo. Theo đó, trình độ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở vùng DTTS&MN còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương. “Tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số trong Ủy ban nhân dân tỉnh, huyện còn thấp (khoảng 11,32%). Trong tổng số 48.200 cán bộ dân tộc thiểu số cấp xã, số người có trình độ học vấn trung học cơ sở chiếm 45,7%, tiểu học 18,7%, chỉ có 1,9% có trình độ cao đẳng và đại học. Đội ngũ cán bộ thôn, bản, phum, sóc năng lực, trình độ còn thấp hơn nhiều. Bên cạnh đó, lực lượng trong độ tuổi lao động của vùng DTTS&MN đã qua đào tạo mới đạt 10,5%[5]. Cũng theo số liệu thống kê cho thấy “Nguồn nhân lực vùng DTTS&MN có trình độ đại học và trên đại học mới đạt 2,8%, riêng người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 1,1%, thấp hơn 4 lần so với toàn quốc”[6].

Những tồn tại, hạn chế trên là do cơ sở hạ tầng vùng DTTS&MN chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động chuyển dịch chậm, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển nguồn nhân lực nói riêng; các chương trình phát triển kinh tế - xã hội chưa có sự lồng ghép chặt chẽ nên hiệu quả chưa cao, nhất là các chương trình về văn hóa, GD&ĐT, dân số có liên quan đến phát triển nguồn nhân lực; công tác quản lý về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực miền núi chưa được quan tâm đúng mức; hệ thống các cơ sở dạy nghề còn nhiều bất cập; nguồn lực đầu tư cho đào tạo nghề từ ngân sách Nhà nước chưa thỏa đáng, thiết bị dạy nghề còn thiếu, một bộ phận cán bộ quản lý dạy nghề chưa có kinh nghiệm thực tiễn, giáo viên thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng; chương trình và nội dung đào tạo nghề chậm đổi mới để bắt kịp với yêu cầu của thị trường lao động…

Để phát triển, nâng cao nguồn nhân lực vùng DTTS&MN trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác GD&ĐT như: Chính sách phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người giai đoạn 2010-2015 theo Quyết định số 2123/QĐ-TTg ngày 22/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ; chính sách miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân theo Quyết định số 49/2010/QĐ-TTg ngày 14/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ; chính sách đào tạo cử tuyển; chính sách đào tạo nghề cho vùng DTTS & MN… Đồng thời, hàng năm, cần tổng kết cả về lý luận và thực tiễn, đánh giá đúng những mặt được và chưa được, kịp thời rút kinh nghiệm để xây dựng chính sách mới và điều chỉnh chính sách đã có về nguồn nhân lực cho phù hợp với từng thời điểm.

Hai là, đổi mới chính sách GD&ĐT ở các cấp. Đổi mới, nâng cao hiệu quả các chính sách cử tuyển dành cho con em các dân tộc thiểu số vào học tại các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp; nâng cao chất lượng, hiệu quả trường phổ thông dân tộc nội trú; mở rộng các khoa dự bị đại học trong các trường đại học cho người dân tộc thiểu số; xây dựng chính sách hỗ trợ phù hợp cho học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số theo từng cấp học, ưu tiên cho vùng đặc biệt khó khăn. Có chính sách huy động mọi nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị trường học đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng về phát triển toàn diện nguồn nhân lực. Gây dựng và củng cố niềm tin về các cơ hội học tập và nghề nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số, từ đó tạo động cơ thúc đẩy phụ huynh và học sinh nỗ lực phấn đấu theo học, chứ không chỉ dừng lại “học chỉ đủ để biết chữ”.

Ba là, đa dạng hóa, phát triển nhanh các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng DTTS&MN. Ưu tiên đầu tư xây dựng và nâng cấp các cơ sở đào tạo nhân lực ở các địa phương, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, giảng viên; tập trung đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học phù hợp với trình độ, năng lực của học sinh, sinh viên người dân tộc, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Đưa chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú; phát triển các mô hình trường dạy nghề gắn với các doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Thực hiện các chương trình, mô hình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tay nghề, hình thành thế hệ nông dân mới, biết ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, thích ứng với cơ chế thị trường.

Bốn làcác cấp ủy đảng, chính quyền địa phương vùng DTTS & MN cần dự báo nhu cầu nguồn nhân lực; rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch phát triển nguồn nhân lực và có định hướng phát triển. Đồng thời, sử dụng hiệu quả nguồn quỹ quốc gia và các chương trình, dự án của Chính phủ trong việc đào tạo, sử dụng, giải quyết việc làm phù hợp với thực tế. Đẩy mạnh các hoạt động đào tạo nghề, phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo nghề ở vùng DTTS & MN nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là thanh niên. Thực hiện các chương trình, biện pháp, chính sách quản trị nguồn nhân lực đồng bộ (chế độ lương bổng, đãi ngộ, cơ hội thăng tiến…) để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về công tác tại địa phương. Cần phải nhận thức được chi phí đầu tư cho đào tạo phát triển nguồn nhân lực là chi phí đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS & MN. Hiệu quả của đào tạo phải được coi là tiêu chí để đánh giá đầu tư hợp lý chứ không phải là việc làm tốn ngân sách địa phương. Kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện nhằm hoạch định nguồn nhân lực, xác định những mặt được, chưa được, từ đó đề ra biện pháp hoàn thiện.

Năm là, mở rộng hợp tác quốc tế về đào tạo phát triển nhân lực và bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho vùng DTTS & MN. Nghiên cứu mô hình và kinh nghiệm đào tạo phát triển nhân lực trình độ cao thành công của các tỉnh, thành phố trong nước và quốc tế. Tạo điều kiện cho các cơ sở đào tạo, các cơ sở sử dụng lao động và nhân lực trình độ cao tham gia giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, truyền cảm hứng cho thanh niên, sinh viên khát khao cống hiến nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Ký kết hợp tác giữa các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của tỉnh với các cơ sở đào tạo tại các trung tâm cả nước và các tỉnh trong việc đào tạo phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của địa phương.

Có thể thấy, vai trò quan trọng của nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao trong việc phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS & MN là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, trong những năm qua, việc phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao chưa được chú trọng. Vì vậy, đã đến lúc, cần thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ và hiệu quả để phát triển nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội để có thể đạt được mục tiêu phát triển kinh tế bền vững cho vùng DTTS&MN./.



[1]. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương: Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.77.

[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2001, tr.201.

[3]. SĐD tr.217.

[4]. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thống kê giáo dục và đào tạo năm học 2014-2015. Hà Nội, 2015.

[5].  SĐD

[6]. SĐD

                                                                                                                                                    PGS. TS. Phạm Văn Sơn                                                                                               Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển giáo dục