Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác dân tộc ở tỉnh Lạng Sơn - Thực trạng và đề xuất về nhu cầu bồi dưỡng

Hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc (CTDT) có vị trí và ý nghĩa hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị; là cầu nối giữa chính quyền với đồng bào các dân tộc thiểu số và thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực CTDT; là cơ quan đầu mối trong việc triển khai, thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với đồng bào dân tộc thiểu số; nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tình hình đời sống kinh tế từ đó tham mưu, đề xuất các chính sách, chế độ cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về CTDT khằng định “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài; đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng nước ta”; chính vì vậy việc đoàn tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ quản lý, điều hành của cán bộ làm CTDT và cán bộ vùng dân tộc thiểu số và miền núi là nhiệm vụ hết sức quan trọng nhằm nâng cao trình độ, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ CTDT các cấp, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về CTDT, thực hiện chính sách dân tộc, tăng cường năng lực cho cán bộ cơ sở trong thực thi chính sách của Nhà nước, góp phần thực hiện thành công chiến lược CTDT đến năm 2020.

          1. Thực trạng về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm CTDT tỉnh Lạng Sơn

          1.1. Một số nét cơ bản về tình hình các dân tộc thiểu số trên địa bàn

          Với đặc thù là tỉnh miền núi, vùng cao, biên giới, Tỉnh Lạng Sơn có 10 huyện, 01 thành phố (có 5 huyện Biên giới) với 226 xã, phường, thị trấn (trong đó có 91 xã đặc biệt khó khăn, 21 xã, thị trấn biên giới, 08 xã an toàn khu) có 2.322 thôn, khối phố, trong đó có 89 thôn biên giới.; chủ yếu có 07 dân tộc sinh sống thành cộng đồng, làng bản là Nùng, Tày, Kinh, Dao, Sán Chay, Hoa, Mông; tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm 82,94% dân số toàn tỉnh; Trong những năm qua, công tác dân tộc được các ngành, cấp cấp quan tâm thực hiện, đời sống của đồng bào các dân tộc ổn định, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội vùng cao và khu vực biên giới được đảm bảo, đồng bào các dân tộc chung sống đoàn kết, chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, không phát sinh những vấn đề  nổi cộm về dân tộc, tôn giáo; Tuy nhiên, tại một số khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng xa trên địa bàn tỉnh, hạ tầng cơ sở còn thấp kém, tập quán sản xuất nhỏ lẻ, lạc hậu, manh mún, tỷ lệ hộ nghèo cao tập trung tại một số dân tộc thiểu số ít người như dân tộc Dao, Mông, Sán chay. Các dân tộc này có bản sắc văn hoá hết sức phong phú, đa dạng và giàu truyền thống đấu tranh cách mạng. Do những đặc điểm lịch sử, các dân tộc thiểu số ở tỉnh thường cư trú tại vùng biên giới và miền núi, vùng có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng; Để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ về CTDT, nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh thì  phải duy trì, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm CTDT, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ CTDT, tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước về CTDT, thực hiện chính sách dân tộc, tăng cường năng lực cho cán bộ cơ sở trong thực thi chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần thực hiện thành công chiến lược CTDT là hết sức quan trọng và cần thiết.

     1.2. Đội ngũ công chức, người lao động trong Hệ thống cơ quan làm CTDT tỉnh Lạng Sơn

     Hiện nay, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, mặt trận, đoàn thể và các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh gồm 30,285 người, trong đó chủ yếu là người dân tộc thiểu số (chiếm tỷ lệ 75,39%); ngoài việc thực hiện các quy định pháp luật về đào tạo, sử dụng cán bộ, công chức thống nhất trên toàn quốc, việc đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức luôn được các cấp uỷ Đảng quan tâm, triển khai đồng bộ với mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đạt chuẩn về trình độ, cơ cấu phù hợp đáp ứng yêu cầu thời kỳ CNH, HĐH giai đoạn 2011 - 2020 nhất là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số, cán bộ, công chức cấp cơ sở.

          Đảng và Nhà nước quan tâm phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi thông qua nhiều chương trình, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng , hỗ trợ sản xuất, xóa đói giảm nghèo, trong đó đặc biệt chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ quản lý, điều hành của cán bộ làm CTDT và cán bộ vùng dân tộc và miền núi. Để hệ thống cơ quan làm CTDT phát huy hiệu lực, hoạt động có hiệu quả thì đội đội ngũ cán bộ công chức làm CTDT có vai trò hết sức quan trọng, là nhân tố quyết định thắng lợi nhiệm vụ CTDT. Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, Ủy ban Nhân dân (UBND) tỉnh Lạng Sơn ban hành Quyết định 980/QĐ-UBND, ngày 23/6/2011 của UBND tỉnh quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Dân tộc tỉnh Lạng Sơn; đồng thời giao cho Ban Dân tộc phối hợp với Sở Nội vụ hướng dẫn, kiện toàn bộ máy làm CTDT cấp huyện, cấp xã. Đến nay hệ thống cơ quan làm CTDTvà cán bộ làm CTDT trên địa bàn tỉnh được kiện toàn từ cấp tỉnh, huyện, xã.

- Cấp tỉnh : Ban Dân tộc tỉnh gồm: Ban lãnh đạo và 06 phòng chuyên môn (Văn phòng, Thanh tra, Pháp Chế, Chính sách, Đầu tư & xây dựng, Kế hoạch -Tổng hợp).

- Cấp huyện (10 huyện): Phòng dân tộc huyện; (riêng thành phố Lạng Sơn, sau khi sắp xếp theo Nghị định 14/NĐ-CP của Chính phủ, nhiệm vụ quản lý nhà nước về CTDT chuyển về văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân Thành phố đảm nhiệm). Biên chế của các phòng Dân tộc huyện từ 3-7 công chức, người lao động

- Cấp xã: Phân công một thành viên Uỷ ban nhân dân kiêm nhiệm phụ trách CTDT và tôn giáo (thực hiện theo Quyết định số 1067/QĐ-UBND ngày 01/6/2009 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn).

Tổng số cán bộ, công chức làm CTDT trên địa bàn toàn tỉnh là 328 cán bộ, công chức, người lao động; trong đó: cấp tỉnh 25 người, cấp huyện 77 người, cấp xã 226 người. Trong đó tổng số cán bộ chuyên trách làm CTDT cấp huyện, tỉnh là 102 người; cán bộ chuyên trách là người dân tộc thiểu số cấp tỉnh và huyện 94 người, chiếm 92,16%; cán bộ là nữ dân tộc thiểu số 20 người, chiếm 19, 61% tổng số cán bộ và chiếm 21,28% trong tổng số cán bộ là người dân tộc thiểu số. Về trình độ đại học có 83  người, chiếm 81,37 % tổng số cán bộ; có 30 cán bộ có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên, chiếm 31,37% tổng số cán bộ. Công chức cấp xã thực hiện CTDT trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong những năm qua được giao cho các chức danh Chủ tịch , Phó chủ tịch, công an xã kiêm nhiệm.

Việc đào tạo, bồi dưỡng CBCC thuộc cơ quan làm CTDT của tỉnh trong những năm qua đã được các cấp các ngành quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; Lý luận chính trị; Quản lý nhà nước; bồi dưỡng về kiến thức (lãnh đạo quản lý, hội nhập quốc tế, quốc phòng an ninh…), kỹ năng điều hành; tin học, ngoại ngữ…; nội dung, phương thức đào tạo, bồi dưỡng luôn được điểu chỉnh, cập nhật thường xuyên; Số cán bộ, công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng sau khi hoàn thành khóa học, cơ bản đều phát huy được kiến thức đã được trang bị, đáp ứng được nhu cầu thực tế và nhiệm vụ CTDT. Hàng năm cán bộ, công chức thuộc cơ quan làm CTDT từ cấp tỉnh, huyện, xã trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn được Trường cán bộ dân tộc đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức dân tộc (thời gian 5 ngày cho đến 1 tuần và 3 tháng) qua bồi dưỡng đã tiếp thu được kiến thức về CTDT để vận dụng vào công việc nâng cao lĩnh vực chuyên môn của ngành. Lãnh đạo trong ngành cũng như lãnh đạo các huyện thường xuyên tạo điều kiện cho cán bộ công chức làm CTDT tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng về CTDT do Trường cán bộ dân tộc tổ chức.

     Tuy nhiên trong những năm qua đội ngũ cán bộ, công chức làm CTDT tại địa phương còn có những hạn chế bất cập: Mặc dù đã được các cấp, các ngành trong tỉnh quan tâm đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên đạt chuẩn theo quy định, tuy nhiên trên thực tế, trình độ, năng lực tổ chức quản lý, điều hành và thực thi công vụ của một số cán bộ, công chức cấp tỉnh, huyện còn yếu, tính chủ động, sáng tạo chưa cao. Phong cách, lề lối làm việc chậm đổi mới, bảo thủ, trì trệ, làm việc cầm chừng, hiệu quả thấp, còn trông chờ, ỷ lại vào tập thể, ỷ lại cấp trên; Ý thức tự học tập nâng cao trình độ và cập nhật kiến thức mới phục vụ công tác của một số cán bộ, công chức còn nhiều hạn chế; ít quan tâm đến việc học tập lý luận, chuyên môn để nâng cao trình độ và năng lực công tác. Việc tham mưu đề xuất chính sách dân tộc cho tỉnh chưa được nhiều; đội ngũ cán bộ làm CTDT cấp huyện luôn có sự luân chuyển nhất là lãnh đạo Phòng; cấp các ngành ở địa phương còn xem nhẹ CTDT và chính sách dân tộc, việc quan tâm đến biên chế và đội ngũ cán bộ, công chức làm CTDT của tỉnh chưa được nhiều. Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ ở cơ sở, nhất là đội ngũ cán bộ kiêm nhiệm CTDT ở cấp xã về năng lực chưa đáp ứng yêu cầu; đội ngũ cán bộ làm CTDT cấp huyện không ổn định luôn có sự luân chuyển nhất là lãnh đạo Phòng; đội ngũ cán bộ làm CTDT từ tỉnh đến huyện đa số chưa được đào tạo chuyên sâu về CTDT mà được tuyển dụng ở nhiều ngành nghề khác nhau; trong hai năm gần đây công tác bồi dưỡng của Trường Cán bộ dân tộc cho cán bộ làm CTDT tại địa phương chưa được thường xuyên nhất là đối với cấp xã.

           2. Một số đề xuất về nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng

    1) Mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ CTDT cho cán bộ, công chức làm CTDT tỉnh, huyện chưa có chứng chỉ CTDT như hiện nay Trường Cán bộ dân tộc đang thực hiện lý do trong năm 2014 Ban Dân tộc tỉnh Lạng Sơn đã đăng ký cho 10 công chức tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ CTDT nhưng chưa được tham gia; cán bộ, công chức làm CTDT tại các huyện trong năm 2015 có sự luân chuyển nhất là lãnh đạo phòng.

     2) Phối hợp với tỉnh tổ chức mỗi năm 03 lớp bồi dưỡng cho công chức làm CTDT tại các xã để nâng cao nhận thức cho cán bộ xã về CTDT và thấy rõ được trách nhiệm của cá nhân trong việc tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc qua đó mới tạo điều kiện cùng với cấp ủy chính quyền xã, cũng như sự phối họp với huyện tổ chức thực hiện tốt các chính sách dân tộc từ cơ sở sẽ đem nhiều hiệu quả trong triển khai CTDT ở địa phương.

     3) Hình thức bồi dưỡng: Áp dụng các phương pháp truyền đạt kiến thức theo từng đối tượng đào tạo, bồi dưỡng như: thuyết trình, làm việc theo nhóm, nghiên cứu tình huống, thảo luận,... đào tạo, bồi dưỡng kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, làm bài tập tình huống; minh họa quy trình, thao tác thực thi nhiệm vụ bằng hình ảnh trình chiếu, hướng dẫn nghiệp vụ theo hình thức “cầm tay, chỉ việc”. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng, đổi mới nội dung chương trình, giáo trình, phương pháp và tài liệu giảng dạy cho phù hợp và chuyên sâu hơn về lĩnh vực của ngành, chú trọng kỹ năng thực tiễn áp dụng cho từng đối tượng người học và có sự liên thông trong nội dung chương trình, giảm bớt những nội dung trùng lắp; do nhiều nội dung trong chương trình học của Trường Cán bộ dân tộc tổ chức thì trên thực tế tại địa phương cũng đã được các cấp các ngành và Ban Dân tộc tỉnh nghiên cứu soạn thảo thành tài liệu tuyên truyền phổ biến cho cán bộ và người dân nông thôn trên địa bàn tỉnh.

          4) Cần nghiên cứu đưa vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng những nội dung mang tính chất đặc thù của ngành đơn của như: CTDT là lĩnh vực đa ngành, đa lĩnh vực do đó, đòi hỏi cán bộ làm CTDT phải hiểu biết chuyên môn đa ngành, nắm rõ đặc điểm dân tộc, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa truyền thống, nguồn gốc lịch sử của đồng bào các dân tộc; quá trình hình thành cơ quan CTDT và các quan điểm của Đảng về CTDT qua các giai đoạn phát triển của đất nước./.

                                                                                                                                                                                                             Vi Hữu Bình                                                                                                                                                           Phó Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Lạng Sơn